Thể chế hóa vấn đề bảo vệ môi trường biển trong Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo - 04:06:40 PM | 01/03/2018
Biển vừa là nơi cung cấp các dạng tài nguyên, dịch vụ thiết yếu, vừa là nơi hấp thụ, đồng hóa các chất thải, do đó, bảo vệ môi trường biển là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường. Điều này cũng đã được luật hóa trong một số văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo. Tuy nhiên, bên cạnh những nội dung đã được thể chế hóa, vẫn còn một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung và quy định cụ thể hơn.

* Luật hóa công tác bảo vệ tài nguyên – môi trường biển, đảo

Tháng 6/2015, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với nhiều nội dung về bảo vệ môi trường biển được thể chế hóa.

Trước tiên, Luật đưa ra nội dung về hành lang bảo vệ bờ biển. Đây được coi là khu vực chuyển tiếp giữa đất liền và biển. Việc thiết lập một khu vực hành lang giữa hai vùng nhằm góp phần bảo vệ vùng ven biển, bảo vệ hệ sinh thái vùng bờ, duy trì giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên; thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Ngoài ra, Luật cũng quy định việc nghiêm cấm hoặc hạn chế những hoạt động làm suy thoái hệ sinh thái vùng bờ, làm suy giảm giá trị dịch vụ của hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên. Đáng chú ý là Luật được tiếp cận không chỉ dưới góc độ các biện pháp tác động trực tiếp tới hành vi gây ô nhiễm hoặc giải quyết các hậu quả gây ra cho môi trường biển mà còn là các hoạt động sử dụng tài nguyên biển. Theo đó, các nội dung liên quan đến Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; Quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo…đều gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển.

Song song với những nội dung nêu trên, Luật dành hẳn một Chương về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, bao gồm 3 mục quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển; nhận chìm ở biển. Trong đó, về kiểm soát ô nhiễm biển và hải đảo, Luật quy định phải kịp thời xử lý, khắc phục có hiệu quả tình trạng ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường biển, hải đảo; các khu vực biển phải được phân vùng rủi ro ô nhiễm; mọi nguồn thải phải được kiểm soát và phải xem xét đến sức chịu tải môi trường của khu vực biển và hải đảo; ứng phó có hiệu quả các sự cố môi trường trên biển, kịp thời ngăn chặn lan truyền ô nhiễm trong sự cố môi trường biển; phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân liên quan trong kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo.Với nội dung nhận chìm, Luật cũng quy định cụ thể về yêu cầu đối với việc nhận chìm; vật, chất được nhận chìm; các nội dung về giấy phép nhận chìm ở biển; Kiểm soát hoạt động nhận chìm ở biển.

* Đề xuất hoàn thiện thể chế về TN&MT biển, đảo

Bên cạnh những nội dung đã được quy định cụ thể, vẫn còn một số nội dung khác cần làm rõ hoặc bổ sung cho phù hợp hơn nhằm góp phần hoàn thiện thể chế trong công tác bảo vệ môi trường biển, trong đó có vấn đề nhận chìm ở biển.

Đầu tiên, cần xem xét ban hành Quy hoạch nhận chìm làm căn cứ cho việc nhận chìm ở biển.  Mặc dù khoản c, Điều 49, Nghị định 40/2016/NĐ-CP quy định khu vực biển đề nghị được sử dụng để nhận chìm phù hợp với quy hoạch sử dụng biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tuy nhiên đến nay, các quy hoạch này vẫn đang quá trình xây dựng, hơn nữa những quy hoạch này khá mới, lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam nên việc triển khai trong thực tế còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cụ thể: Đối với Quy hoạch sử dụng biển, do quy hoạch có phạm vi khá rộng bao gồm toàn bộ vùng biển Việt Nam nên tỷ lệ bản đồ của quy hoạch rất bé, khoảng 1/1.000.000, do đó rất khó để xác định khu vực biển dùng để nhận chìm trên bản đồ.

Thứ hai, cần đồng bộ giữa việc cấp phép nhận chìm ở biển và giao khu vực biển. Khoản b, Mục 2, Điều 61 Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quy định tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm ở biển có nghĩa vụ nộp lệ phí cấp phép và tiền sử dụng khu vực biển để nhận chìm theo quy định của pháp luật, tuy nhiên việc cấp phép nhận chìm ở biển và cấp phép khu vực biển hiện nay vẫn riêng rẽ, các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp phải hoàn thiện thủ tục xin giấy phép nhận chìm trước, sau đó tiếp tục xin giấy phép sử dụng khu vực biển. Điều này gây ra sự bất tiện không đáng có, do vậy nên sửa đổi các thủ tục hiện tại đồng thời cấp phép nhận chìm và cấp phép sử dụng khu vực biển trên cùng một giấy phép. Ngoài ra, giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về nhận chìm ở biển và giao khu vực biển vẫn còn chưa đồng nhất. Cụ thể: Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo sử dụng thuật ngữ nhận chìm ở biển nhưng Thông tư liên tịch số 198/2015/TTLT-BTC-BTNMT ngày 07/12/2015 quy định phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền sử dụng khu vực biển lại sử dụng thuật ngữ “Sử dụng khu vực biển để đổ thải bùn nạo vét”. Mặc dù bản chất giống nhau nhưng sự khác biệt trên có thể dẫn đến những hiểu lầm không đáng có. Do vậy, cần thống nhất một thuật ngữ chung giữa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Thứ ba, cần hoàn thiện các quy định về việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan. Theo quy định, một số hoạt động cần phải lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan như: thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ… Tuy nhiên, hoạt động nhận chìm lại chưa được nhắc đến về vấn đề lấy ý kiến các bên liên quan. Khác với trên đất liền, các hoạt động ở trên biển thường có sự ảnh hưởng rất rộng đến các bên liên quan khác nhau. Do tính chất lan truyền vật chất trong nước biển nên hoạt động nhận chìm trên biển có thể ảnh hưởng rất lớn đến các khu vực xung quanh nhận chìm. Do vậy cần thiết phải xin ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan đối với hoạt động nhận chìm ở biển.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế cho hệ thống giám sát nhận chìm. Điều 4 và Khoản 5, Điều 57, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo cùng nhấn mạnh việc nhận chìm ở biển phải được quản lý, kiểm soát chặt chẽ, tuy nhiên ở các văn bản dưới Luật hiện vẫn chưa quy định rõ nội dung này. Môi trường biển có nhiều yếu tố tiềm ẩn, rất khó lường, do vậy công tác giám sát trong hoạt động nhận chìm rất quan trọng. Việc giám sát khi nhận chìm cần được giám sát liên tục 24/7, thời gian giám sát cả trước, trong và sau khi nhận chìm. Với công nghệ và nhân lực hiện tại, việc giám sát khu vực biển nhận chìm để đáp ứng yêu cầu trên là tương đối khó khăn do điều kiện ngoài biển thường xuyên biến động. Do đó, cần phải xây dựng hệ thống quan trắc tự động tại các điểm nhận chìm. Hệ thống quan trắc này cần được triển khai trước khi nhận chìm, liên tục báo cáo về trung tâm điều khiển. Hiện nay, trên thế giới, đã có nhiều hệ thống có khả năng giám sát nhưng vấn đề là cần phải xây dựng cơ chế cho hệ thống này, nhanh chóng đầu tư hệ thống giám sát và đưa vào hoạt động nhằm tăng hiệu quả của công tác giám sát trong nhận chìm ở biển

Bên cạnh vấn đề nhận chìm, Luật cũng chưa đề cập đến nội dung các hình thức phạt trong vấn đề gây ô nhiễm môi trường biển. Mặc dù các luật chuyên ngành đã có quy định về các hành vi gây ô nhiễm biển, song Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo mới tập trung vào một số nội dung mới như: nhận chìm ở biển, hành lang bảo vệ bờ biển… Do đó, cần đưa ra chế tài xử phạt đối với các hoạt động ảnh hưởng đến môi trường biển, thậm chí xử lý ở mức hình sự.

Bên cạnh đó, Luật tuy nêu tương đối đầy đủ một số đơn vị tham gia quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo như: Ủy ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận…, song lại chưa nhắc đến những thành phần quan trọng, có mặt thường xuyên trên biển đó là lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, lực lượng ngư dân, lực lượng thuỷ thủ trên các tàu hàng hải... Việc thiếu quy định chặt chẽ về sự phối hợp này nên các thông tin về môi trường biển thường rất thiếu và chậm trễ, vì thế cần sớm có các quy định về phối hợp của các lực lượng này.

Cuối cùng, cần lưu ý vấn đề lượng giá các hệ sinh thái từ đó làm cơ sở cho việc phạt các hành vi ảnh hưởng đến môi trường biển. Thực tế cho thấy, các sự cố môi trường biển diễn ra ở phạm vi rộng, mức độ ảnh hưởng rất to lớn. Tuy nhiên việc xác định đúng giá trị thiệt hại để tiến hành đền bù lại gặp nhiều khó khăn. Hiện nay trên thế giới cũng như ở trong nước có nhiều nghiên cứu khoa học về xác định lượng giá hệ sinh thái từ đó làm cơ sở cho việc xác định mức phạt các hành vi ảnh hưởng đến môi trường biển. Do vậy, đây là căn cứ quan trọng để tiến hành thể chế hoá các nghiên cứu này và áp dụng vào thực tế./.

Châu Âu (Nguồn Bộ TN&MT)
 
  Các bài viết mới hơn
    Quết định số 539/QĐ-UBND ngày 31/3/2021 V/v Phê duyệt kết quả đánh giá hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển năm 2020 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận   - 07/04/2021
    Bản tin: Đánh giá sự thay đổi các yếu tố môi trường ở vùng biển Việt Nam   - 07/05/2020
    BẢN TIN: KIỂM SOÁT RÁC THẢI NHỰA BIỂN Ở VIỆT NAM:   - 18/03/2020
    Sở Tài nguyên và Môi trường: Tích cực triển khai các biện pháp phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (nCoV)   - 11/02/2020
    Lễ phát động phong trào Chống rác thải nhựa   - 11/06/2019
    Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức quán triệt, triển khai các Chỉ chị, Quy định Đảng   - 23/04/2019
    CẦN TUYÊN CHIẾN VỚI RÁC THẢI NHỰA, TÚI NILON   - 04/04/2019
    Đoàn thanh niên Sở TNMT: Tổ chức, tham gia tích cựccác hoạt động hưởng ứng Tháng thanh niên năm 2019   - 01/04/2019
    Kết quả đánh giá hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển năm 2018 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận   - 29/03/2019
    Diễn đàn đối thoại “Đảng với đoàn thể” năm 2019   - 26/03/2019
  Các bài viết cũ hơn
    Nghiên cứu khoa học – Chìa khóa tiến ra biển   - 25/01/2018
    Nghị quyết đại hội đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022: Xung kích bảo vệ môi trường và ứng phó với biên đổi khí hậu   - 22/01/2018
    Kết quả triển khai thực hiện Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển năm 2017 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận   - 12/01/2018
    10 năm kiếm tìm giá trị của Biển   - 04/01/2018
    Điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường một số đảo, cụm đảo lớn   - 03/01/2018
    Công tác quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên – môi trường biển trên địa bàn tỉnh năm 2017   - 27/12/2017
    Đẩy mạnh hoạt động quản lý tổng hợp vùng bờ   - 22/12/2017
    Quảng Trị quy hoạch Phân vùng chức năng vùng bờ đến năm 2020   - 22/12/2017
    Tình trạng triều cường đã gây sạt lở nghiêm trọng tại tuyến đê ở thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận   - 21/12/2017
    Hành lang bảo vệ bờ biển – công cụ quan trọng trong bảo vệ bờ biển, bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển   - 12/12/2017
DỰ BÁO THỜI TIẾT
  • Ninh Thuận
  • TP PR-TC
  • KV ven biển
Đêm 27, ngày 28/8/2020
35 - 370C
25 - 270C

 Mây thay đổi, chiều tối có mưa rào và dông chủ yếu ở khu vực vùng núi thuộc khu vực huyện Ninh Sơn và Bác Ái; ngày nắng nóng. Gió tây nam cấp 2, cấp 3.

Đêm 27, ngày 28/8/2020
26 - 350C
26 - 350C

 Mây thay đổi, chủ yếu không mưa, ngày nắng nóng. Gió tây nam cấp 2, cấp 3.

Đêm 27, ngày 28/8/2020

 Mây thay đổi, có mưa dông vài nơi, trong cơn dông đề phòng lốc xoáy, gió giật mạnh. Gió tây nam cấp 4, có lúc cấp 5, giật cấp 6. Sóng biển cao 1.0 đến 2.0m. Biển động nhẹ.

ẢNH HOẠT HOẠT ĐỘNG
LIÊN KẾT TRANG
THỐNG KÊ
Đang truy cập: 2310
Tổng lượt truy cập: 6,110,831