Kết quả thực hiện công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh năm 2018 - 01:51:41 PM | 08/01/2019
Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ an ninh – quốc phòng. Công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển phải đi trước một bước và là tiền đề quan trọng cho việc phát triển bền vững kinh tế biển. Xác định được tầm quan trọng của công tác điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển, trong năm qua, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở, ban, ngành, đơn vị liên quan và địa phương ven biển tăng cường công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở, nền tảng vững chắc cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển, làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhanh và bền vững, góp phần cải thiện đời sống Nhân dân ở vùng ven biển.

1. Kết quả đạt được

* Công tác phối hợp triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển

Nhằm đảm bảo kịp thời triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh một cách nghiêm túc, hiệu quả, trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành, các cơ quan liên quan và địa phương ven biển phối hợp tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nội dung các văn bản về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển trên địa bàn tỉnh; đồng thời, tổ chức rà soát, tham mưu xây dựng một số văn bản về khai thác, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển; tổ chức triển khai, giám sát kết quả thực hiện; phối hợp triển khai và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Đồ án Quy hoạch, Kế hoạch phát triển dải ven biển; Quy hoạch nuôi trồng thủy sản tỉnh Ninh Thuận; Quy chế quản lý khu bảo tồn biển Vườn Quốc gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận và một số văn bản có liên quan đến công tác khai thác, sử dụng tài nguyên biển.

Bên cạnh đó, để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường biển tại địa phương, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ven biển đã chủ động xây dựng, ban hành nhiều kế hoạch thực hiện phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn của địa phương; qua đó, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân tại khu vực ven biển thuộc địa bàn quản lý.

          * Kết quả phối hợp triển khai thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Nhằm phối hợp đồng bộ, hiệu quả công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững; giảm nhẹ mức độ suy thoái, cạn kiệt tài nguyên và kiềm chế tốc độ gia tăng ô nhiễm môi trường vùng biển, vùng biển ven bờ của tỉnh; nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, duy trì chức năng sinh thái và năng suất sinh học của các hệ sinh thái biển; bảo vệ đa dạng sinh học biển và các nguồn lợi từ biển; trong thời gian qua, tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành, đơn vị liên quan và địa phương ven biển thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nội dung Quyết định số 30/QĐ-UBND ngày 10/02/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.

Tuy nhiên, Ninh Thuận là tỉnh khó khăn, ngân sách Trung ương còn phải hỗ trợ địa phương, trong khi các nhiệm vụ, chương trình, đề án, dự án được phê duyệt tại Quyết định số 30/QĐ-UBND đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí lớn để thực hiện, Tỉnh vẫn chưa cân đối được; do đó, các nhiệm vụ, dự án, đề án, chương trình được phê duyệt tại Quyết định số 30/QĐ-UBND chưa được triển khai thực hiện theo đúng tiến độ đề ra.

* Kết quả thực hiện Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ

Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và Quy hoạch, kế hoạch thực hiện phát triển dải ven biển, xác định kinh tế biển là động lực, là khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; trong năm qua, các cơ quan, địa phương, đơn vị đã triển khai nhiều hoạt động, giải pháp phù hợp làm cơ sở để xây dựng các chương trình, dự án vận động, thu hút các nguồn lực đầu tư để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và phát triển kinh tế biển nói riêng, đạt được kết quả quan trọng, cụ thể:

Về đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển:  

Thực hiện chủ trương về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ theo tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI), Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 14/11/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về huy động nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cấp thiết: Giao thông, thủy lợi, đô thị, giáo dục, y tế giai đoạn 2016 – 2020; trong năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã bố trí 438.730 triệu đồng/40 dự án đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển. Mặt khác, để thu hút các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị tại khu vực ven biển, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt 13 đồ án quy hoạch chung xây dựng và phân khu xây dựng; 12 đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500; cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định đầu tư 54 dự án; 07 dự án đã chấp thuận khảo sát và 18 dự án đang đăng ký đầu tư tại khu vực ven biển. Qua đó, tạo điều kiện sắp xếp lại dân cư vùng ven biển, góp phần phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh vùng biển, đảo, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bên cạnh đó, hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị ven biển tiếp tục được quan tâm đầu tư, từng bước được hoàn thiện, một số khu đô thị mới đang tiến hành đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại khu vực đã bàn giao mặt bằng; một số khu đô thị mới cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

 

Thực hiện chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP; Nghị định số 89/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Đề án tổ chức lại nghề khai thác hải sản tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2013 – 2020, năng lực khai thác hải sản của tỉnh được nâng lên, tổng sản lượng khai thác thủy sản toàn tỉnh đạt 107.120 tấn hải sản các loại.

Với chủ trương xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm sản xuất tôm giống của cả nước đến nay đã đạt được mục tiêu đề ra và phát huy được lợi thế của tỉnh. Toàn tỉnh có khoảng 450 cơ sở hoạt động sản xuất tôm giống, trong đó có khoảng 250 cơ sở chuyên sản xuất giống tôm thẻ và 200 cơ sở sản xuất tôm Sú. Tổng sản lượng tôm giống đạt 31.000 triệu post.

Mặt khác, với môi trường nuôi khá thuận lợi, các đối tượng nuôi sinh trưởng, phát triển tốt và đạt năng suất cao (như: ốc hương, cá bớp, rong sụn, hàu,..), quy mô nuôi trồng được mở rộng. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ trong năm đạt 1.105 ha, ước đạt 110,5% so với cùng kỳ.

Ninh Thuận được xác định là một trong những tỉnh trọng điểm trong Chiến lược phát triển du lịch quốc gia đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt; đồng thời, du lịch là một trong 06 nhóm ngành kinh tế trụ cột của Tỉnh, thời gian qua, Tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, kế hoạch, chỉ thị để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện.

Với chủ đề “Năm quản lý nhà nước về du lịch” (về an ninh trật tự, an toàn cho du khách, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường) với phương châm linh hoạt, chủ động, sáng tạo đã tạo động lực mạnh mẽ trong công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh và cùng với sự chuyển biến tích cực, rõ nét trên từng nhiệm vụ, trên từng lĩnh vực; trong năm 2018, tốc độ phát triển du lịch của tỉnh có sự chuyển biến, đổi mới khá nhanh, thu hút nhiều dự án đầu tư du lịch tại khu vực ven biển với quy mô lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch ngày một tăng về số lượng và chất lượng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 130 cơ sở lưu trú du lịch tương đương với 2.980 phòng, phấn đấu đến năm 2020, đón 2,5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm khoảng 8-10%, doanh thu đạt khoảng 1.450 tỷ đồng. Đến năm 2020, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế động lực, thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác phát triển; từng bước hình thành khu du lịch trọng điểm của cả nước với các loại hình dịch vụ đặc biệt có tính cạnh tranh cao, sản phẩm du lịch đa dạng, chất lượng dịch vụ tốt nhất.

Về vận tải biển, xây dựng cảng biển, bến thủy nội địa và phát triển công nghiệp đóng tàu:

Thực hiện chủ trương về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ theo tinh thần Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Chương trình hành động số 145-CTr/TU ngày 19/10/2012 của Tỉnh ủy; Tỉnh đã tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, bảo đảm cho nhu cầu phát triển nhanh và bền vững; đáp ứng nhu cầu vận tải đường thủy phục vụ cho các khu, cụm công nghiệp và vận chuyển hàng hóa trong và ngoài tỉnh; phát triển mạnh dịch vụ vận tải biển, đáp ứng yêu cầu vận chuyển các loại sản phẩm hàng hóa có quy mô lớn. Trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cảng tổng hợp Cà Ná và cảng biển Ninh Chữ.

Bên cạnh đó, khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư mở rộng, nâng cấp cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, cung ứng các dịch vụ kỹ thuật bảo dưỡng, bảo hành. Trên địa bàn tỉnh hiện nay, có 06 cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu thuyền nghề cá.

            * Tình hình quản lý, thực hiện các hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển trên địa bàn tỉnh

Xác định nhiệm vụ điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học tài nguyên, môi trường biển là nhiệm vụ quan trọng, làm cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển môi trường biển, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, đề án, các quyết định, các giải pháp khả thi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng biển; trong năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban,ngành, các cơ quan, đơn vị liên quan và địa phương ven biển tăng cường đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển trên địa bàn tỉnh; xây dựng các giải pháp thích hợp, hiệu quả phù hợp với điều kiện tại địa phương; góp phần phát triển kinh tế - xã hội và an ninh – quốc phòng.

Trên địa bàn tỉnh hiện nay, có 06 dự án nghiên cứu khoa học về điều tra chất lượng đa dạng sinh học biển và môi trường biển; phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu, cụ thể: dự án “Đánh giá hiện trạng, dự báo diễn biến đa dạng sinh học; chất lượng các thành phần môi trường tại tỉnh Ninh Thuận phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trọng điểm phía Nam của tỉnh”; dự án “Đánh giá sức chịu tải sông Cái và phân vùng xả thải vào sông Cái đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”; dự án “Nghiên cứu so sánh khả năng chống chịu của các rạn san hô ở vùng biển Việt Nam nhằm bảo tồn đa dạng sinh học biển trong một thế giới đang biến đổi”; dự án “Nghiên cứu sinh học biển Việt Nam”; dự án “Thu giữ nước dưới đất để phát triển nông lâm nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh bền vững trên vùng đất khô hạn ven biển Ninh Thuận” và dự án “Hệ thống thủy lâm kết hợp để phòng chống hoang mạc hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Ninh Phước và huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận”. Hầu hết kết quả các dự án nghiên cứu khoa học có tác động tích cực đến công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.

            * Công tác quản lý kiểm soát ô nhiễm môi trường biển

Về công tác quản lý kiểm soát ô nhiễm môi trường biển:

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và cải thiện chất lượng môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng, phát triển bền vững vùng ven biển, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với đơn vị liên quan tổ chức hướng dẫn cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đóng trên địa bàn tỉnh thực hiện chương trình giám sát môi trường theo đăng ký tại các hồ sơ môi trường được phê duyệt/xác nhận. Cho đến nay, các cơ sở đều thực hiện tốt chương trình giám sát môi trường định kỳ theo hồ sơ môi trường đã đăng ký. Bên cạnh đó, công tác quan trắc thành phần chất lượng môi trường nước biển cũng đã được Tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện, định kỳ quan trắc 04 lần/năm tại 20 điểm ven bờ. Kết quả quan trắc là cơ sở để giám sát, phát hiện các vị trí có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, từ đó đưa ra các biện pháp cảnh bảo phù hợp, kịp thời phát hiện và xử lý các hiện tượng gây ô nhiễm môi trường nước biển, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo đảm phát triển bền vững lâu dài. Đến nay, chất lượng môi trường nước biển của tỉnh chưa có dấu hiệu ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế-xã hội vùng ven biển

Với quan điểm “Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người” đã được cộng đồng ở các địa phương đặc biệt là cấp xã tham gia tích cực thông qua việc lấy ý kiến tham vấn cộng đồng đối với các dự án đầu tư, giám sát việt thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường ở địa phương; trực tiếp tham gia giải quyết các xung đột môi trường, phát hiện và đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; cho đến nay, đã thành lập được 09 Tổ cộng đồng giám sát hoạt động xả thải tại Khu công nghiệp và các cụm mỏ đá đóng trên địa bàn. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả công tác phối hợp giám sát hoạt động xả thải tại các nhà máy nhiệt điện của Trung tâm điện lực Vĩnh Tân theo “Quy chế phối hợp và chia sẻ thông tin về công tác bảo vệ môi trường Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân” đã được ký kết với Cục Môi trường miền Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.

Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành, các đơn vị liên quan và địa phương ven biển thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường thuộc phạm vi/lĩnh vực được giao quản lý như: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về kiểm soát ô nhiễm môi trường theo định kỳ hoặc đột xuất và giám sát chất lượng môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh theo nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường đã được đăng ký và xác nhận; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát ô nhiễm từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy hải sản của các tổ chức, cá nhân gắn với bảo vệ môi trường biển; phân công cán bộ địa bàn hướng dẫn người nuôi thu gom rác thải và xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường bên ngoài; tổ chức triển khai công tác quan trắc môi trường và cảnh báo dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản theo định kỳ 01 lần/tháng và đột xuất, tăng cường khi vào vụ nuôi chính hoặc khi dịch bệnh xảy ra; tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị nhằm tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật trong hoạt động nuôi trồng thủy sản; ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và tổ chức kiểm tra các cơ sở du lịch trên địa bàn thực hiện tốt các quy định về môi trường; tổ chức tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm đối với vùng biển thuộc phạm vi quản lý; phát huy vai trò giám sát của các Tổ cộng đồng tại địa phương nhằm hỗ trợ phát triển, xử lý hành vi vi phạm trên biển; tuyên truyền, ký cam kết không sử dụng chất nổ trong khai thác thủy sản với các hộ dân tham gia hoạt động đánh bắt thủy sản; tổ chức triển khai đề án thu gom và xử lý rác thải;…

Về các công trình phòng chống thiên tai vùng ven biển:

Thực hiện Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển theo Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay trên địa bàn tỉnh có 07 công trình kè, đê chống sạt lở, trong đó có 05 dự án công trình đã thi công hoàn thành và đưa vào sử dụng, với chiều dài trên 8,1 km ở địa bàn các xã ven biển, nhằm đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản cho nhân dân trong mùa mưa bão. Trong thời gian tới, Tỉnh sẽ đầu tư xây dựng đê, kè biển tại một số vị trí sạt lở nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh do ảnh hưởng của các cơn bão vừa qua; củng cố, nâng cấp hệ thống đê, kè biển đã bị xuống cấp nhằm đáp ứng năng lực phòng chống bão, áp thấp nhiệt đới, triều cường; xây dựng đê, kè chống sạt lở bờ biển tại khu vực từ xã Nhơn Hải đến xã Thanh Hải; đê sông Phú Thọ; kè biển Phú Thọ - Đông Hải (cửa sông Cái – Phan Rang); kè chống sạt lở Cảng Cà Ná và khu tái định cư cầu Quằn - huyện Thuận Nam.

Ngoài ra, công tác bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn cũng được Tỉnh quan tâm tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực. Trong năm 2018, thực hiện dự án SP-RCC đã trồng được 19,99 ha và chăm sóc rừng ven biển từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 là 133,74 ha. Trong thời gian tới, Tỉnh sẽ tiếp tục trồng mới rừng phòng hộ; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; thanh tra, kiểm tra việc thực xử lý vi phạm hành chính, điều tra xử lý hình sự, nghiệp vụ quản lý, bảo vệ rừng; tăng cường cơ chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng giữa các lực lượng, đặc biệt là sự phối hợp giữa lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, lực lượng vũ trang, chính quyền địa phương và các hộ dân, cộng đồng dân cư sống ven rừng.

          * Công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại trên biển

Công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại trên biển được Tỉnh xác định là một nhiệm vụ quan trọng. Trong năm 2018, Tỉnh đã phê duyệt 01 Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của Cảng cá Ninh Chữ thuộc Ban quản lý Khai thác các cảng cá Ninh Thuận. Đồng thời, hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định 10 bản Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của 10 cây xăng dầu thuộc hệ thống Công ty Cổ phần xăng dầu – dầu khí Bình Thuận đóng trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lớp đào tạo và đã cấp Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu cho 34 cán bộ và nhân viên làm công tác kinh doanh xăng dầu trong tỉnh và tổ chức hướng dẫn việc lập, xây dựng và thẩm định Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của các cơ sở kinh doanh xăng, dầu trên địa bàn tỉnh theo đúng quy định tại Quyết định số 35/2015/QĐ-UBND. Tính đến nay, các cơ sở kinh doanh xăng dầu chưa xảy ra sự cố môi trường, gây ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của Nhân dân và môi trường xung quanh.

Ngoài ra, để triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 12/8/2013 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố ven biển đã xây dựng kế hoạch mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể và phân công rõ trách nhiệm cho các phòng, ban, đơn vị trực thuộc trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố trên biển; phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan huy động các nguồn lực để ngăn chặn, ứng phó các sự cố môi trường biển, giải quyết việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường biển theo quy định của pháp luật; phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển, phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do ô nhiễm môi trường biển gây ra trên địa bàn; đôn đốc các cơ sở kinh doanh xăng dầu trên địa bàn quản lý lập Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định tại Quyết định số 35/2015/QĐ-UBND.

* Hợp tác quốc tế về tài nguyên, môi trường biển

Quan hệ hợp tác quốc tế về biển được tiếp tục tăng cường và mở rộng, trong năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức chỉ đạo các Sở, ban, ngành và địa phương chủ động xây dựng các chương trình, dự án vận động thu hút các nguồn vốn NGO, ODA để tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng các công trình phòng chống thiên tai cho các xã vùng ven biển; hỗ trợ sinh kế, nâng cao năng lực cho người dân để phát triển sản xuất và giảm nghèo bền vững; tăng cường năng lực trong phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu; giáo dục và phát triển nông thôn. Việc thực hiện các dự án tài trợ trên đã góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong năm qua, tại các khu vực ven biển, tỉnh đã vận động thu hút 06 dự án NGO với vốn cam kết tài trợ 591.309 USD (tương đương 13,6 tỷ đồng) và 02 dự án ODA với tổng số vốn 245,349 triệu đồng, trong đó vốn ODA 105,34 triệu đồng, còn lại là vốn đối ứng.

* Công tác tuyên truyền pháp luật về biển và hải đảo

Xác định rõ công tác tuyên truyền kiến thức pháp luật về biển, đảo là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên và liên tục, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng – an ninh của tỉnh nói riêng và của đất nước nói chung; đồng thời, phổ biến kịp thời, sâu rộng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về quản lý, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo; trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức chỉ đạo các Sở, ban ngành, đơn vị liên quan và địa phương ven biển tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú và đa dạng về nội dung, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, cụ thể như sau:

- Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan liên quan và địa phương ven biển tổ chức tuyên truyền 07 lớp/490 lượt người tham dự về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chính sách, pháp luật về khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên, môi trường biển. Mặt khác, phối hợp với Trung tâm Truyền thông Tài nguyên và Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức 04 lớp tập huấn nâng cao kiến thức về bảo vệ môi trường cho cán bộ Hội Nông dân các cấp, cán bộ làm công tác quản lý môi trường cấp cơ sở.

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn ven biển, các cơ sở sản xuất, nuôi trồng hải sản trên địa bàn tỉnh tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị nhằm tuyên truyền phổ biến các quy định pháp luật trong về hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản; nâng cao ý thức trách nhiệm của người nuôi trong việc giữ gìn bảo vệ môi trường nuôi chung.

- Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức lớp tập huấn công tác thông tin đối ngoại và kỹ năng phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí cho đối tượng là lãnh đạo các Sở, ban ngành và UBND cấp huyện, thành phố; đẩy mạnh tuyên truyền về phát triển kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo; ban hành các văn bản đề nghị các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền kịp thời bằng nhiều hình thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, hải đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Sở Công Thương tổ chức phổ biến các chính sách, pháp luật về tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thông qua sinh hoạt Ngày pháp luật” vào đầu tuần mỗi tháng; đồng thời, đăng ký mua 02 bộ sách (50 câu hỏi – đáp về Luật biển quốc tế và Luật biển Việt Nam; Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông), nhằm truyền tải những thông điệp, nâng cao nhận thức, kiến thức cho cán bộ công chức của ngành về ý thức bảo vệ vùng biển, tài nguyên trên biển và môi trường biển của nước ta.

- Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức hoạt động sinh hoạt về xây dựng nông thôn mới, xây dựng văn minh đô thị tại các xã, phường ven biển, hoạt động đã thu hút 250 lượt cán bộ chiến sỹ và hàng trăm lượt ĐVTN địa phương tham gia.

- Vườn Quốc gia Núi Chúa tổ chức 07 lớp tuyên truyền về bảo vệ tài nguyên biển tại khu vực Vịnh Vĩnh Hy cho các tàu du lịch, tàu khai thác thủy sản, nhà hàng nổi và lắp 01 bảng Panô tuyên truyền về bảo vệ san hô, rùa biển tại cầu tàu tuần tra kết hợp với du lịch tại thôn Vịnh Hy; phối hợp với Gia đình em yêu thiên nhiên Việt Nam tổ chức cho 300 em học sinh trong cả nước và 100 con em ngư dân tại thôn Mỹ Hòa, Thái An, Vĩnh Hy tham gia lớp học về bảo vệ rùa biển và bảo vệ thiên nhiên; tổ chức 05 đợt tuyên truyền cho 500 người sống trong và xung quanh Khu bảo tồn biển về công tác bảo vệ tài nguyên rừng biển. Đồng thời, phối hợp tổ chức 20 lượt học sinh – sinh viên với 3.000 em tham gia học tập, giáo dục về bảo vệ môi trường rừng, biển và tìm hiểu về thiên nhiên; tổ chức 07 lớp học về phổ biến tuyên truyền về bảo vệ đa dạng sinh học và luật pháp quản lý và bảo vệ môi trường biển cho 02 xã sống trong và xung quan Khu bảo tồn biển; tổ chức 17 lượt tình nguyện viên với hơn 200 tình nguyện viên cả nước tham gia công tác bảo tồn rùa biển, dạy tiếng anh cho con em tại địa phương, giáo dục bảo vệ môi trường tại thôn xóm.

Ngoài ra, để tiếp tục củng cố, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, hải đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như tôn vinh các giá trị của đại dương đối với cuộc sống, sức khỏe của con người; gắn việc thực hiện tuyên truyền biển, đảo với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị; kịp thời thông tin, phổ biến đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về biển, đảo Việt Nam đến các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh; trong năm 2018; các Sở, ban, ngành và địa phương tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới năm 2018 trên địa bàn tỉnh theo đúng nội dung hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường; tổ chức treo băng rôn tại trụ sở cơ quan, đơn vị, đường phố chính và những nơi công cộng; tổ chức hoạt động trồng cây xanh, dọn vệ sinh, thu gom rác thải tại khu vực bãi biển Bình Sơn – Ninh Chữ. Các Sở, ban, ngành, các cơ quan, đơn vị liên quan và UBND các huyện, thành phố ven biển trong tỉnh đã nhiệt liệt hưởng ứng và tổ chức triển khai thực hiện tốt các hoạt động của Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hàng năm theo đúng nội dung và thời gian quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân tỉnh. Hoạt động đã thu hút sự tham gia của hàng trăm đoàn viên, thanh niên và Nhân dân địa phương; góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, đặc biệt là cộng đồng dân cư ven biển về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; sử dụng bền vững nguồn tài nguyên – môi trường biển; về trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu; góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tài nguyên và môi trường biển cho sự phát triển bền vững của đất nước, bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc cũng như ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu trong giai đoạn hiện nay.

* Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển

Để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành và địa phương ven biển phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh, kết quả như sau:

- Về lĩnh vực bảo vệ môi trường: Trong năm 2018, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện, thành phố đã tổ chức 21 cuộc thanh tra, kiểm tra về công tác bảo vệ môi trường đối với 167 tổ, cá nhân (trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra 02 cơ sở; Sở Tài nguyên và Môi trường thanh tra, kiểm tra 65 tổ chức và cá nhân; UBND các huyện, thành phố tổ chức thanh tra, kiểm tra 99 tổ chức và cá nhân). Kết quả có 53 tổ chức, cá nhân vi phạm, trong đó, có 03 tổ chức, cá nhân bị UBND các huyện xử lý xử lý vi phạm với số tiền 16 triệu đồng, các tổ chức, cá nhân còn lại được Đoàn thanh tra, kiểm tra nhắc nhở đến nay đã khắc phục xong vi phạm theo yêu cầu của Đoàn thanh tra, kiểm tra.

- Về lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy sản: Tổ chức 14 cuộc thanh tra về lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (trong đó, 09 cuộc trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, các cơ sở đóng, sửa tàu thuyền và 05 cuộc trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản). Đã phát hiện và lập biên bản xử lý 201 trường hợp/ 243.150.000 đồng.

- Về công tác tuần tra trên biển: Tổ chức tuần tra trên biển 1.392 lượt/6.405 cán bộ chiến sỹ tham gia, đã phát hiện 06 vụ/14 đối tượng (03 vụ/07 đối tượng tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ; 03 vụ/07 đối tượng sử dụng xung điện khai thác hải sản), thu giữ tang vật và tổ chức xử lý hành theo Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/9/2013 của Chính phủ.

- Về lĩnh vực bảo tồn biển: Vườn Quốc gia Núi Chúa tổ chức 36 lượt kiểm tra các hoạt động khai thác trái phép, sử dụng chất độc, chất nổ của các thuyền bè khai thác thủy sản, các hoạt động tắm lặn trên rạn san hô, thả neo trên rạn san hô của các tàu hoạt động du lịch; tổ chức 48 lượt tuần tra các hoạt động đào bới bắt trùn biển, khai thác con non đối với người dân khai thác thủy sản tại khu vực trong Khu bảo tồn biển.

* Công tác thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển

Thực hiện Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ và Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT ngày 12/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt dự án “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Ninh Thuận” tại Quyết định số 677/QĐ-UBND ngày 19/4/2017 và phê duyệt dự toán kinh phí dự án tại Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 17/10/2017. Hiện nay, dự án đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ để tổ chức Hội nghị tham vấn, lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển tỉnh Ninh Thuận.

* Quản lý hoạt động nhận chìm ở biển

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 1864/QĐ-UBND ngày 28/9/2017 về việc công bố thủ tục hành chính về lĩnh vực biển thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận (gồm 05 thủ tục hành chính: Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, trả lại và cấp lại Giấy phép nhận chìm ở biển) theo hướng dẫn tại Quyết định số 1229/QĐ-BTNMT ngày 29/5/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc công bố thủ tục hành chính trong lĩnh vực biển và hải đảo thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Và cho đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh chưa cấp giấy phép nhận chìm ở biển cho các tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật.

2. Những khó khăn, vướng mắc

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển vẫn còn gặp phải một số khó khăn, cụ thể:

- Các nhiệm vụ giao cho các địa phương nhiều, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực nhưng kinh phí thực hiện còn hạn chế nên một số nhiệm vụ chưa được triển khai thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng tiến độ phê duyệt.

- Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển các ngành kinh tế biển còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

- Lĩnh vực thủy sản phát triển chưa bền vững, hiệu quả, sản lượng khai thác còn thấp so với tiềm năng. Một số vùng nuôi trọng điểm đã xuất hiện nhiều loại dịch bệnh phát sinh; tình trạng khai thác mang tính hủy diệt có lúc, có nơi còn xảy ra. Thực hiện chủ trương đa dạng đối tượng nuôi phát triển còn chậm.

- Phát triển du lịch biển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; một số sản phẩm du lịch chưa hấp dẫn, còn đơn điệu, chưa tạo được nét đặc trưng riêng, chưa xây dựng được thương hiệu du lịch biển Ninh Thuận.

- Đội ngũ cán bộ quản lý về lĩnh vực tài nguyên môi trường biển hiện nay đang thiếu và còn hạn chế về chuyên môn, nhất là ở cấp huyện và cấp xã.

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển được đầu tư nhưng còn thiếu, nhất là các thiết bị chuyên dùng phục vụ cho việc giao khu vực biển và kiểm soát môi trường biển.

3. Đề xuất, kiến nghị

  Với mục tiêu phát triển kinh tế biển là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà; phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của tỉnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với đặc thù tự nhiên của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường một số nội dung cụ thể như sau:

- Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cho các địa phương ven biển trong việc thực hiện giao, cho thuê khu vực biển để giải quyết các quy định chồng chéo giữa Thông tư số 02/2015/TT- BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường với Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ;

- Phối hợp với Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn hướng dẫn tiêu chí xác định nguy xảy ra sự cố tràn dầu đối với các cơ sở kinh doanh xăng dầu trên đất liền có quy mô lưu trữ trên 20 tấn để xác định thẩm quyền phê duyệt tại Khoản 3, 4 Điều 7 của Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu ban hành kèm theo Quyết định số 02/2013/QĐ-TTg ngày 14/01/2013;

- Phối hợp với các Bộ, ngành có kế hoạch tổ chức đào tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong công tác quản lý, bảo vệ, sử dụng, khai thác tài nguyên, môi trường biển;

- Quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ cho tỉnh thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế, nhằm tạo điều kiện phát triển nhanh các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho các dự án năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế trụ cột của tỉnh;

- Quan tâm hỗ trợ, trang bị cho tỉnh một số trang thiết bị chuyên dùng để phục vụ công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

- Quan tâm hỗ trợ cho tỉnh tiếp nhận nguồn vốn ODA nhằm giúp tỉnh có điều kiện thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại dân cư ở vùng ven biển, góp phần phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, bảo đảm an toàn và tài sản Nhân dân vùng ven biển./.

Châu Âu – Chi cục Biển
 
  Các bài viết mới hơn
    Lễ phát động phong trào Chống rác thải nhựa   - 11/06/2019
    Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức quán triệt, triển khai các Chỉ chị, Quy định Đảng   - 23/04/2019
    CẦN TUYÊN CHIẾN VỚI RÁC THẢI NHỰA, TÚI NILON   - 04/04/2019
    Đoàn thanh niên Sở TNMT: Tổ chức, tham gia tích cựccác hoạt động hưởng ứng Tháng thanh niên năm 2019   - 01/04/2019
    Kết quả đánh giá hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển năm 2018 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận   - 29/03/2019
    Diễn đàn đối thoại “Đảng với đoàn thể” năm 2019   - 26/03/2019
    Thùng rác biển giúp tự động dọn rác trên đại dương   - 19/02/2019
    Tỉnh Ninh Thuận tăng cường thực hiện quản ký tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển   - 14/01/2019
  Các bài viết cũ hơn
    Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định Quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển năm 2019   - 29/11/2018
    Kết quả thực hiện công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển, đảo và phân giới cắm mốc trên địa bàn tỉnh năm 2018.   - 21/11/2018
    Cần quy định riêng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường biển   - 12/11/2018
    Một số chủ trương lớn về phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới   - 26/10/2018
    Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Danh mục các điểm có giá trị đặc trưng mực nước triều vùng ven biển   - 05/09/2018
    Kết quả thực hiện công tác quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2018   - 04/09/2018
    Công đoàn Sở TNMT: Tham gia Hội thi văn hóa – thể thao kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam năm 2018   - 19/06/2018
    Kiểm soát chất thải nhựa trên biển: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp phù hợp cho Việt Nam   - 28/05/2018
    Kế hoạch tổ chức Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam 2018 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận   - 24/05/2018
    Ra mắt trang web Vì biển xanh   - 17/05/2018
DỰ BÁO THỜI TIẾT
  • Ninh Thuận
  • TP PR-TC
  • KV ven biển
Đêm 28/6, ngày 29//2019
36 - 380C
26 - 280C

 Các khu vực mây thay đổi, ngày nắng nóng, vùng núi có nắng nóng gay gắt; chiều, tối có mưa rào và dông vài nơi chủ yếu ở vùng núi thuộc huyện Ninh Sơn và Bác Ái. Gió tây nam cấp 3, có lúc cấp 4.

Đêm 28/6, ngày 29//2019
27 - 360C
27 - 360C

 Mây thay đổi, chủ yếu không mưa, ngày nắng nóng. Gió tây nam  cấp 3, cấp 4.

Đêm 28/6, ngày 29//2019

 Mây thay đổi, có mưa rào và dông vài nơi, trong cơn dông đề phòng sét, lốc xoáy và gió giật mạnh. Gió tây nam cấp 5, có lúc cấp 6, giật cấp 7. Độ cao sóng trung bình: 2.0m đến 3.0m. Biển động.

ẢNH HOẠT HOẠT ĐỘNG
LIÊN KẾT TRANG
THỐNG KÊ
Đang truy cập: 1203
Tổng lượt truy cập: 3,457,717